frameleft href
frameright
 

Khoa học - Công nghệ Phú Yên

Phát huy vai trò động lực trong phát triển kinh tế - xã hội

Nguyễn Văn Dũng

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên

Trong kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), bám sát chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từ năm 1996 đến năm 2005, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên đã thực hiện 103 dự án, đề tài khoa học cấp tỉnh. Trong đó, nhiều đề tài đã được triển khai sâu rộng vào cuộc sống, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa của địa phương.

Ngay sau khi thành lập (ngày 14-12-1993), nhận thức được trọng trách lớn lao của ngành với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội địa phương, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), ngành khoa học - công nghệ Phú Yên đã nhanh chóng triển khai kế hoạch thực hiện các đề tài điều tra cơ bản về đặc điểm tự nhiên, xã hội, nhân văn của địa phương. Trên cơ sở đó, ngành đã xây dựng, cung cấp các luận cứ khoa học trong việc hoạch định chiến lược, đề ra các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài.

Đưa khoa học - công nghệ về nông thôn, miền núi và vùng biển

Phú Yên có địa hình đa dạng với núi cao, biển rộng, cao nguyên màu mỡ, đồng bằng phì nhiêu,... và nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế nông thôn - miền núi. Tuy vậy, trước đây, với phương thức canh tác truyền thống, phương tiện sản xuất lạc hậu nên hiệu quả kinh tế thấp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Văn Dũng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên

Trước thực trạng này, trong giai đoạn 1996 - 2004, Phú Yên đã tập trung phát triển thế mạnh của các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá hiệu quả và bền vững, nhằm tạo bước đệm quan trọng cho những chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn tiếp theo. Thực hiện chủ trương đó, ngành khoa học - công nghệ Phú Yên có kế hoạch triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhằm gây dựng và tìm ra những giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái của địa phương như: bộ giống lúa LC88-66 phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng miền núi; thâm canh các cây công nghiệp có thế mạnh như: điều, tiêu, bông lai, dứa,... gieo trồng các giống sắn KM 90, KM 94 cho năng suất cao; các giống mía F156, Roc 20, My 55-14 chịu hạn, năng suất, chữ đường cao trồng ở vùng hạn của tỉnh,...

Nhiều đề tài, dự án ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn được thực hiện thành công. Trong đó, dự án "Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ kinh tế - xã hội nông thôn" được triển khai thực hiện ở xã Xuân Thọ 2 (huyện Sông Cầu) từ cuối năm 2001 là minh chứng điển hình. Cùng với đó, phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cũng được triển khai mạnh mẽ. Đến năm 2005, tổng số bò lai sind trên toàn tỉnh là 69.113 con, chiếm 34,28% tổng đàn. Dự án 50 triệu/ha/năm được triển khai ở xã Hòa Thắng (huyện Phú Hòa) đã thu hút 48 hộ tham gia, áp dụng công thức luân canh: trồng bí chanh + bắp (ngô) lai + bông vải + lúa,... cho thu nhập 48 triệu đồng/ha.

Với phương tiện thủ công, lối đánh bắt truyền thống, khai thác thiếu khoa học, không những làm cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản mà hiệu quả kinh tế lại không cao. Thêm vào đó, từ năm 2004, nhiều diện tích nuôi tôm sú đã xảy ra dịch bệnh nên năng suất thấp, lượng tôm hùm giống khan hiếm nên số lượng tôm hùm nuôi giảm. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của tỉnh: "Tập trung chỉ đạo và đầu tư đúng mức nhằm thực hiện một số dự án có tính chất chiến lược về thuỷ sản để trong thời gian ngắn đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", nhiều đề tài nghiên cứu nhằm phát hiện, đánh giá tiềm năng kinh tế biển của Phú Yên, đồng thời phát hiện và đưa ra những cảnh báo về nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thuỷ hải sản của tỉnh đã được thực hiện. Nhiều dự án thuỷ sản với các mô hình luân canh, xen canh được triển khai như: nuôi tôm sú kết hợp với cá rô phi, nuôi tôm sú thương phẩm với mật độ thưa; chuyển một số diện tích sang nuôi cua xanh thương phẩm, ốc hương, vẹm xanh, rong sụn; tăng cường công tác kiểm soát dịch bệnh, công tác dự báo ngư trường, thời tiết cho đánh bắt xa bờ,... đã góp phần đưa giá trị sản xuất thuỷ sản tăng khoảng 5,5%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005. Dự án ứng dụng máy tầm ngư - định vị trong khai thác thuỷ sản đã góp phần nâng cao sản lượng đánh bắt từ 27.710 tấn (năm 2000) lên 31.700 tấn (6 tháng đầu năm 2005), trong đó sản lượng cá ngừ đại dương đạt 5.040 tấn.

Việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và tạo ra sản phẩm hàng hoá, cung cấp nguyên liệu cho các đơn vị chế biến xuất khẩu. Thành công này có ý nghĩa kinh tế - xã hội hết sức to lớn, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều lao động nông thôn, miền núi, miền biển, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo trên toàn tỉnh từ 15,3% (năm 2001) xuống còn 5,2% (năm 2005). Đồng thời, những kết quả nghiên cứu còn là luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền trong tỉnh. Không những thế, đất trống, đồi trọc được phủ xanh, môi trường sinh thái được bảo vệ, tiềm năng đất gò đồi hoang hóa được khai thác hợp lý đã mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi và vùng biển.

Đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong giai đoạn 1996 - 2005, công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp địa phương. Bám sát định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến, bằng dự án "Sản xuất đồ hộp từ nguyên liệu thịt, cá và một số rau quả", ngành đã cùng các doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch, nâng cao chất lượng chế biến lương thực, thực phẩm, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, ngành còn thực hiện các dự án sản xuất vật liệu xây dựng trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên của địa phương; dự án cung cấp năng lượng cho khu vực nông thôn và miền núi; nghiên cứu các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và giảm tổn thất điện năng; đề án chống xâm thực bê tông trong xây dựng nhà ở ven biển; sản xuất phân vi sinh, phân NPK, sản xuất bột trợ lọc Diatomit trong nuôi trồng thủy sản, sản xuất thức ăn nuôi tôm, nghiên cứu chế tạo thiết bị tự động hoá,... Trong đó, ngành đã thành công trong công tác nghiên cứu, chế tạo Robot bốc vỏ chai được ứng dụng tại Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Phú Yên, đạt huy chương vàng tại Hội chợ công nghệ Techmart tại Hà Nội năm 2003.

Bên cạnh đó, ngành đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ - thông tin vào đời sống và các hoạt động xã hội thông qua thực hiện các dự án: ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cấp tỉnh; xây dựng cơ sở dữ liệu về kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên; xây dựng mạng Intranet khoa học - công nghệ tỉnh Phú Yên; xây dựng mạng thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phòng chống thiên tai của tỉnh; xây dựng website các cấp, ngành trong tỉnh; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về công nghệ - thông tin.

Cùng với nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, ngành còn triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (giáo dục - đào tạo, điều tra môi trường, khí hậu thủy văn, y tế, văn hóa, lịch sử,...) nhằm xây dựng cơ sở, luận cứ khoa học cho các cấp lãnh đạo hoạch định chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Ngành đã triển khai nghiên cứu biên soạn: Địa chí Phú Yên, lịch sử Đảng bộ các cấp, lịch sử một số ngành của tỉnh Phú Yên và đề tài văn học Phú Yên thế kỷ XX. Đề tài "Phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu một số môn học của trường phổ thông tỉnh Phú Yên" đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy, bồi dưỡng học sinh năng khiếu của tỉnh, được ngành giáo dục - đào tạo Phú Yên ứng dụng trong các trường phổ thông trong tỉnh. Các đề tài điều trị tiêu sợi huyết trong nhồi máu cơ tim, điều tra tình hình bệnh lao, điều tra dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi,... góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Trồng các giống mía có khả năng chịu hạn, chữ lượng đường cao đã góp phần nâng cao năng suất mía của tỉnh Phú Yên

Cùng với nhiệm vụ quản lý hoạt động khoa học, ngành còn thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn: thanh tra, kiểm tra ngăn ngừa sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng. Theo đó, ngành đã phối hợp với Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường- Chất lượng mở các lớp tập huấn cho các ngành về thực hiện chứng nhận an toàn cho các sản phẩm hàng hoá của địa phương thuộc diện phải được chứng nhận bắt buộc, phù hợp với tiêu chuẩn; hỗ trợ kinh phí nghiên cứu khoa học cho mỗi đơn vị tham gia áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (ISO 9000, trị giá 25 triệu đồng; ISO 14000, trị giá 25 triệu đồng; HACCP, trị giá 20 triệu đồng); tư vấn cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đăng ký sở hữu công nghiệp và đăng ký chất lượng sản phẩm.

Phát huy kết quả đã đạt được, tranh thủ sự ủng hộ của các cấp, các ngành, các cơ quan nghiên cứu khoa học trên cả nước, phối hợp cùng các sở, ban, ngành liên quan trong tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên sẽ đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đưa khoa học- công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thực hiện khẩu hiệu "đi tắt đón đầu" trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tiền thân của Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên là Ban Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Phú Yên. Khi đó, cơ sở vật chất của đơn vị còn đơn sơ, kinh phí eo hẹp, lực lượng cán bộ thiếu và yếu, nên không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ.

Ngoài ra, trước nhu cầu ngày càng cao của công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, cuối năm 1992, Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước được chuyển đổi thành Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ). Theo đó, Ban Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Phú Yên đã được chuyển thành Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường Phú Yên (nay là Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên) theo Quyết định số 2166/QĐ-UB ngày 14-12-1993 của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Những thử nghiệm thành công

Dự án "Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ kinh tế - xã hội nông thôn" ở xã Xuân Thọ 2 (huyện Sông Cầu) đã triển khai thực hiện các mô hình: thâm canh cây mía cao sản trên đất đồi không chủ động nước tưới, sind hóa đàn bò và kinh tế trang trại trên đất gò đồi với các loại cây trồng mang tính sản xuất hàng hóa, phù hợp với đất đai, khí hậu tại địa phương. Sau 3 năm triển khai, dự án đã cho kết quả khả quan. Giống mía chịu hạn, có năng suất cao My 55-14 được nhập từ Cuba, ứng dụng trồng trên đất gò đồi, hoang hóa của hai thôn Hảo Nghĩa và Mỹ Lương, đạt năng suất bình quân 76,8 tấn/ha, vượt trên 30 tấn/ha so với giống mía của địa phương, lợi nhuận đạt hơn 10 triệu đồng/ha. Từ kết quả đó, hai thôn Hảo Nghĩa và Mỹ Lương đã nhân rộng diện tích trồng mía cao sản chịu hạn My 55-14 lên 54 ha trong năm 2004.

Mô hình sind hóa đàn bò nằm trong dự án này cũng đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Trước khi triển khai dự án, tổng đàn bò của xã có 2.950 con, chủ yếu là giống bò cỏ của địa phương, tăng trọng chậm, trọng lượng thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Với việc áp dụng phương thức thụ tinh nhân tạo và phối giống trực tiếp từ bò sind đực, đến năm 2004, thôn Mỹ Lương đã có 46 con bê lai, hai thôn Hảo Danh, Hảo Nghĩa có 100% bò cái phối giống sind đã thụ thai và sẽ cho ra đời khoảng 15 bê lai sind trong thời gian tới. Cùng với sind hóa đàn bò, dự án đã đưa vào trồng thử 0,75 ha cỏ voi cho năng suất 210 - 215 tấn/ha/năm.

Bên cạnh đó, dự án đã khơi dậy tiềm năng của 1.700 ha gò đồi hoang hóa thông qua xây dựng mô hình trang trại trên cơ sở lấy cây điều, cây xoài làm cây dài ngày; lấy ngắn nuôi dài bằng cách xen canh cây lạc, dứa,... để nâng cao độ che phủ và tăng độ phì của đất. Dự án đã đưa các dòng điều có năng suất cao (15 tạ/ha), chất lượng tốt như: ĐD66-14, ĐDH67-15, BO1, PN1,... giống xoài ghép thuần chủng thuộc giống GL1, GL2,... vào trồng thử nghiệm. Sau 24 tháng trồng, vụ bói quả đầu tiên, năng suất xoài đạt 360 kg/ha, năng suất điều đạt 160,8 kg hạt/ha. Những thành công bước đầu đã mở ra triển vọng nhân rộng mô hình trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là trên diện tích đất gò đồi hoang hóa.

Mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2005 - 2010 là từng bước đưa tỷ trọng công nghiệp đến năm 2010 đạt 35,7% GDP của tỉnh. Hướng tới mục tiêu đó, Phú Yên đang đẩy mạnh việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, chuẩn bị đón nhận những dự án đầu tư. Do vậy, trách nhiệm của ngành khoa học - công nghệ Phú Yên trong giai đoạn tới sẽ nặng nề hơn, yêu cầu về nhân lực và vật lực cao hơn. Gánh vác trọng trách đó, từ năm 2000, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Yên đã đưa một số cán bộ có năng lực đi học cao học và các chuyên đề sau đại học, cử nhiều lượt cán bộ đi tham quan khảo sát, nghiên cứu các mô hình khoa học - công nghệ tiên tiến, tiếp thu kiến thức khoa học - công nghệ hiện đại, tăng cường hợp tác quốc tế trong việc chuyển giao công nghệ, xây dựng các cơ sở thực nghiệm,... Đồng thời, ngành cũng đẩy mạnh công tác kiện toàn tổ chức; khuyến khích, khen thưởng, động viên các nhà khoa học tích cực tham gia nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học có giá trị, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Sở Khoa học và công nghệ Phú Yên

Địa chỉ: số 8 đường Trần Phú, thành phố Tuy Hòa - Phú Yên

Điện thoại: 057.842595

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau