frameleft href
frameright
 

Hệ thống ngân hàng Phú Yên

Kênh dẫn vốn quan trọng trong

công cuộc phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Đối với một tỉnh nghèo như Phú Yên, để có thể bứt phá vươn lên bắt kịp nhịp độ phát triển của các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước thì cần phải "mạnh tay" đầu tư. Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp, phải bao quát nhiều mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, việc huy động các nguồn vốn trong nhân dân và các thành phần kinh tế không còn là giải pháp tạm thời. Trong những năm qua, với vai trò là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng, hệ thống ngân hàng Phú Yên đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đến năm 2004, tỉnh Phú Yên gần như hội tụ khá đủ các gương mặt của ngành ngân hàng. Trong đó, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Yên thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn, trung tâm thanh toán của các tổ chức tín dụng và kho bạc nhà nước, trung tâm tiền mặt, đảm bảo đưa hoạt động ngân hàng phát triển đúng hướng, hiệu quả và an toàn. Ngoài ra, tỉnh Phú Yên còn có 3 chi nhánh ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội với mạng lưới rộng khắp đến tất cả huyện, thành phố trong tỉnh.

Ông Lê Đức Thuý - Thống đốc Ngân hàng nhà nước - làm việc với lãnh đạo ngành ngân hàng Phú Yên

Tăng trưởng nhanh và ổn định

Ngày 1-7-1989, thời điểm hệ thống ngân hàng Phú Yên chính thức đi vào hoạt động, tổng nguồn vốn của các ngân hàng trên địa bàn vỏn vẹn có 13,7 tỷ đồng. Để đủ lực tiếp sức cho các đơn vị sản xuất - kinh doanh mới thành lập, có số vốn kinh doanh rất nhỏ bé, thậm chí có doanh nghiệp nhà nước không có vốn tự có, các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã tăng cường "đi vay để cho vay". Với các biện pháp huy động vốn linh hoạt, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đã tăng bình quân 28%/năm (1989 - 2003). Đến hết tháng 6-2004, tổng nguồn vốn của các ngân hàng Phú Yên đã tăng gấp 183 lần so với khi mới thành lập, đạt 2.515 tỷ đồng. Trong đó, vốn huy động tại chỗ tăng 130 lần, vốn hỗ trợ từ ngân hàng thương mại Trung ương và vay các nguồn khác tăng 230 lần. Đặc biệt, kể từ năm 1992, các ngân hàng trên địa bàn bắt đầu huy động vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn của các thành phần kinh tế nhằm mở rộng sản xuất - kinh doanh, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật. Nếu năm 1992 các ngân hàng mới huy động được 1,4 tỷ đồng vốn dài hạn, thì đến tháng 6-2004 đã huy động được 320 tỷ đồng, tăng gấp 228 lần.

Dư nợ tín dụng cũng có mức tăng trưởng vượt bậc. Khi mới thành lập, số dư nợ tín dụng của các chi nhánh ngân hàng huyện, thị Bắc Phú Khánh (cũ) là 10,4 tỷ đồng. Đến hết tháng 6-2004, con số này đã đạt trên 2.400 tỷ đồng, tăng trên 230 lần so với thời điểm tách tỉnh. Trong đó, dư nợ tín dụng ngắn hạn là 995 tỷ đồng, tăng 40 lần; dư nợ tín dụng trung và dài hạn là 1.131 tỷ đồng, tăng trên 1.000 lần. Đặc biệt, tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn ngày càng tăng, từ 2% (năm 1989) lên 53,2% (năm 2004).

Đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Mặc dù giá trị tuyệt đối trong công tác huy động vốn và cho vay còn khiêm tốn nếu so sánh với các địa phương khác trong cả nước, song những con số tăng trưởng nêu trên đã thể hiện những nỗ lực vượt bậc của hệ thống ngân hàng Phú Yên. Từ chỗ tỷ lệ nguồn vốn huy động tại chỗ chỉ đáp ứng 25% nhu cầu vốn trong những năm đầu tách tỉnh, đến năm 2004 con số này đã tăng lên 48%. Sự khởi sắc của kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên nói chung, từng ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế nói riêng, trong suốt 15 năm qua, luôn có sự đóng góp đáng kể và hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Nhờ nguồn vốn vay ngân hàng, các ngành, các thành phần kinh tế có điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân.

Vốn trung và dài hạn đã phát huy hiệu quả thiết thực trong những ngành kinh tế chủ đạo như: nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, giao thông - vận tải, xây dựng, thương mại - dịch vụ,... góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phát triển ngành nghề mới như: đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp chế biến,... qua đó không ngừng nâng cao giá trị tổng sản lượng.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nhờ sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như: hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,Ặ nguồn vốn ngân hàng đã đến tận tay bà con nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Đặc biệt, sự lớn mạnh và hoạt động hiệu quả của kinh tế trang trại Phú Yên chủ yếu nhờ vào sự trợ giúp vốn của ngân hàng. Đến năm 2004, toàn tỉnh có 2.613 trang trại được vay vốn với tổng số vốn 239 tỷ đồng. Nhờ nguồn vốn này, các trang trại có điều kiện mở rộng sản xuất - kinh doanh, ứng dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đem lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập bình quân đạt 26,3 triệu đồng/trang trại/năm.

Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều dự án công nghiệp lớn của tỉnh đã có sự tham gia góp vốn của các ngân hàng, điển hình như: Nhà máy thuỷ điện Sông Hinh, Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Phú Yên. Nhiều nhà máy, xí nghiệp, đặc biệt là những đơn vị trong các ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng để đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ hiện đại, tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị cạnh tranh cao.

Trong lĩnh vực đầu tư phát triển, trung bình mỗi năm, Phú Yên cần khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Trong khi đó, nguồn vốn ngân sách mới đáp ứng được 30%. Do vậy, cùng với nguồn vốn huy động từ nhân dân theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", nguồn vốn đầu tư của ngân hàng cũng chiếm tỷ trọng đáng kể. Đến năm 2004, vốn ngân hàng dành cho lĩnh vực đầu tư phát triển đạt 1.130 tỷ đồng (trong đó khối kinh tế quốc doanh đạt 545 tỷ đồng), chiếm 36% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Xét theo thành phần kinh tế, vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động cho cả khu vực kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Đối với khu vực kinh tế quốc doanh, vốn tín dụng tập trung cho các dự án sản xuất đường, nước khoáng, bia, đồ gỗ xuất khẩu, lắp ráp xe máy, may mặc, điện,... tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động địa phương. Trong đó phải kể đến những dự án như: Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Phú Yên, Công ty dược và vật tư y tế, Nhà máy đường Tuy Hoà,Ặ

Không chỉ chú trọng đầu tư cho khu vực kinh tế quốc doanh, hệ thống ngân hàng Phú Yên đã tích cực hướng hoạt động tín dụng sang phục vụ mọi thành phần kinh tế, nhất là khi Đảng, Nhà nước có chủ trương phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Nếu đầu những năm 1990 tỷ lệ dư nợ cho vay quốc doanh/ngoài quốc doanh là 73,7%/26,3%, thì đến hết tháng 6-2004 đã là 48%/52% (dư nợ tín dụng khối quốc doanh là 1.157 tỷ đồng, ngoài quốc doanh là 1.246 tỷ đồng).

Bên cạnh việc đầu tư cho vay phát triển kinh tế, tỷ lệ dư nợ cho vay các hộ thuộc diện chính sách xã hội không ngừng tăng lên. Trước năm 1995, dư nợ cho vay các hộ chính sách mới ở mức 4,7 tỷ đồng, đến tháng 6-2004 đã tăng lên 153 tỷ đồng với trên 33 nghìn hộ vay, đạt mức cho vay bình quân 4,6 triệu đồng/hộ. Tuy chưa cao, nhưng nguồn vốn này đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 25,3% trong những năm 1990 xuống còn 9,08% vào năm 2004.

Theo đánh giá của ông Đào Tấn Lộc - Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên, hoạt động của hệ thống ngân hàng Phú Yên đã thực sự mang lại hiệu quả, góp phần đưa Phú Yên tiến bước vững chắc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá.

Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước về thăm và kiểm tra tình hình hoạt động của ngành ngân hàng Phú Yên (năm 2003)

Hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng - phục vụ khách hàng với chất lượng tốt nhất

Không chỉ chú trọng nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn và nâng cao chất lượng tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng, coi đây là lợi thế để cạnh tranh trên thị trường tài chính - tín dụng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết lập mạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, triển khai ứng dụng thanh toán SWIFT, dịch vụ thẻ,... đã mở ra nhiều cơ hội mới để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng. Trung bình hàng năm, các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã chi hàng tỷ đồng cho công tác đầu tư máy móc, thiết bị, cải tiến nâng cấp các chương trình công nghệ, hiện đại hóa các sản phẩm dịch vụ, hướng đến tối đa hóa tiện ích và lợi ích cho khách hàng. Đến năm 2004, toàn hệ thống ngân hàng Phú Yên đã được trang bị hệ thống tính toán hiện đại, phần mềm ứng dụng đa dạng, phong phú, phục vụ đắc lực cho hoạt động ngân hàng trong tất cả các nghiệp vụ.

Nhờ vậy, khách hàng có thể nhanh chóng nắm bắt thông tin về ngân hàng như: lãi suất tiền gửi, tiền vay; tỷ giá ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá mua bán tại ngân hàng. Dịch vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng cho phép khách hàng có thể chuyển tiền thuận lợi và nhanh chóng. Các ngân hàng trên địa bàn cũng bắt đầu trang bị máy rút tiền tự động ATM cho phép khách hàng rút tiền mặt thông qua thẻ từ tài khoản.

Ngoài các phương thức thanh toán truyền thống, các ngân hàng Phú Yên đã áp dụng các phương tiện thanh toán hiện đại, chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế như: thanh toán qua mạng vi tính, chuyển tiền điện tử, thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, mở tài khoản và thanh toán cá nhân. Các dịch vụ kiều hối, thu đổi, kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài cũng được triển khai ở hầu hết các ngân hàng.

Nhờ hiện đại hóa công nghệ thanh toán nên khối lượng và chất lượng dịch vụ thanh toán của các ngân hàng không ngừng tăng lên. Cụ thể, nếu năm 1989 khối lượng thanh toán qua ngân hàng trên địa bàn là 1.190 tỷ đồng, thì đến năm 2003 là 25.736 tỷ đồng, gần 20 lần. Không những thế, thời gian thanh toán rút xuống chỉ còn vài giờ, thậm chí có những món thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán nội bộ chỉ tính bằng phút.

Sự phát triển của kinh tế Phú Yên trong thời gian tới, trước hết biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao và ổn định của các ngành kinh tế, sự hình thành và hoạt động hiệu quả của các khu công nghiệp, sự phát triển và nhân rộng của mô hình kinh tế trang trại,Ặ đang mở ra nhiều cơ hội mới cho hoạt động tiền tệ - tín dụng ngân hàng. Hiểu rõ điều đó, hệ thống ngân hàng Phú Yên không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng hoạt động không chỉ trong các lĩnh vực nghiệp vụ mà cả về phong cách phục vụ khách hàng, hướng tới tính chuyên nghiệp và hiệu quả.

Trong thời gian tới, cùng với việc Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Yên triển khai dịch vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng, các ngân hàng thương mại Phú Yên sẽ triển khai đề án ngân hàng bán lẻ trên phạm vi toàn tỉnh. Với định hướng phát triển đúng đắn, cùng thế và lực được củng cố vững chắc qua các thời kỳ, ngành ngân hàng Phú Yên tiếp tục khẳng định vai trò là công cụ đắc lực điều tiết nền kinh tế, huy động và lưu thông nguồn vốn, khơi dậy nguồn lực cho đầu tư phát triển, đóng góp ngày càng đắc lực trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước.

Hệ thống ngân hàng Phú Yên

- Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Yên.

- Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên: vốn huy động chiếm 73% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 53,4% thị phần.

- Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Phú Yên: vốn huy động chiếm 13,74% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 22,8% thị phần.

- Chi nhánh Ngân hàng công thương Phú Yên: vốn huy động chiếm 11,28% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 20% thị phần.

- Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội Phú Yên: vốn huy động chiếm 1,98% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 3,8% thị phần.

Một số kiến nghị

1) Nhà nước cần ban hành kịp thời và đồng bộ các cơ chế, chính sách và pháp luật nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ ngân hàng; sớm thực hiện chủ trương cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh hoạt động hiệu quả.

2) Tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng chính sách xã hội hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững trong tương lai.

3) Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó có cơ chế xử lý tài chính liên quan đến vốn vay của ngân hàng, giúp các ngân hàng thương mại thực hiện tốt chủ trương tái cơ cấu hoạt động.

4) Sớm thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 20-12-2001 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn ngân hàng, phát triển sản xuất - kinh doanh.

5) Sớm ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư của tỉnh vay vốn ngân hàng thương mại để thực hiện dự án.

Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng Phú Yên

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu

1989

2000

2003

2004

1.Tổng nguồn vốn

- Nguồn vốn huy động tại địa phương

- Vốn điều chuyển trong hệ thống

35

10,6

24,4

1.387

515

872

2.270

1.082

1.188

2.515

1.165

1.350

2. Sử dụng vốn

- Doanh số cho vay

+ Ngắn hạn

+ Trung, dài hạn

- Doanh số thu nợ

+ Ngắn hạn

+ Trung, dài hạn

 

100,7

100,5

0,2

84,5

84,4

0,1

 

1.845

1.560

285

1.522

1.403

149

 

2.420

1.923

497

2.184

1.822

362

 

1.316

1.015

301

1.126

907

219

3. Tổng dư nợ (chia theo thời hạn)

- Ngắn hạn

- Trung, dài hạn

26,5

26

0,5

1.300,6

707

593,6

2.017

1.115

902

2.203

995

1.208

4. Nợ xấu

- Nợ quá hạn

- Nợ khoanh, chờ xử lý

0,3

0,3

102,2

32,2

70

188,3

138,5

49,8

169

135

34

Nguồn: Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Yên

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau