frameleft href
frameright
 

Huyện Sông Cầu

Biến tiềm năng thành thế mạnh

Đến với Sông Cầu để được tận mắt chứng kiến những đổi thay đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên mảnh đất này mới thấy hết ý chí và nghị lực của Đảng bộ, chính quyền và người dân nơi đây đang được phát huy cao độ để biến những tiềm năng, thế mạnh thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Sông Cầu đang chuyển mình, một Sông Cầu năng động, sầm uất không chỉ là niềm mơ ước mà đang dần hiện hữu trên mảnh đất này.

- Diện tích: 487,3 km2

- Dân số: 93 nghìn người

- Đơn vị hành chính: 01 thị trấn và 10 xã

- Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 - 2005: 11,5%/năm

Trên mảnh đất Phú Yên, hiếm có vùng đất nào hội tụ đầy đủ tiềm năng để phát triển kinh tế theo hướng đa dạng và toàn diện như Sông Cầu. Vùng đất này vừa có đồng bằng, vừa có núi, có sông, có rừng, có biển. Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Sông Cầu đang tích cực khai thác tiềm năng kinh tế biển, đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bên cạnh đó, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và du lịch là những ngành kinh tế mang tính đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sông Cầu.

Thuỷ sản - ngành kinh tế mũi nhọn

Trong cơ cấu kinh tế huyện Sông Cầu, giá trị sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp chiếm 63%, trong đó giá trị sản xuất ngư nghiệp chiếm khoảng 85,8% GDP ngành nông - lâm - ngư nghiệp. Kết quả này cho thấy, ngư nghiệp chiếm vị trí quan trọng đối với ngành nông nghiệp nói riêng, kinh tế huyện Sông Cầu nói chung. Bước chuyển biến của ngành ngư nghiệp Sông Cầu được khởi đầu bằng Chỉ thị số 10/CT-HU ngày 3-8-1987 của Huyện uỷ về việc phát động phong trào quần chúng phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Chỉ thị nhấn mạnh: "Mở rộng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản vừa khai thác sử dụng tiềm năng đất đai có hiệu quả, tạo việc làm tại chỗ, vừa giải quyết việc giãn dân ra những vùng đất mới ven biển kết hợp phát triển kinh tế với an ninh - quốc phòng".

Với 80 km bờ biển, 15,7 nghìn ha diện tích mặt nước và 2.800 ha đất nuôi trồng thuỷ sản, Sông Cầu xác định ngư nghiệp là mũi nhọn phát triển kinh tế của huyện. Để hoàn thành mục tiêu đó, Sông Cầu đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngư nghiệp mà trọng tâm là đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản. Nhờ đó, trong những năm 1993 - 1995, con tôm sú đã mang lại sự đổi thay đáng kể cho đời sống của nhân dân huyện Sông Cầu. Tuy nhiên, do nuôi trồng không khoa học nên trong những năm 1996 - 2001, nghề nuôi tôm sú của Sông Cầu gặp rất nhiều khó khăn. Theo ông Phạm Chấn Hào - Trưởng phòng Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Sông Cầu - cho biết: "Do một số hộ dân thả nuôi sớm so với lịch thời vụ, thời tiết diễn biến thất thường, môi trường nuôi biến động và nguồn giống chất lượng không đảm bảo khiến dịch bệnh xảy ra và lây lan trên diện rộng". Tôm sú mắc bệnh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế Sông Cầu và đời sống ngư dân. Năm 2003, 60% số hộ nuôi tôm sú bị lỗ vốn, chỉ có 10% hộ nuôi có lãi. Thực trạng này khiến diện tích nuôi tôm bị thu hẹp.

Dù nghề nuôi tôm sú gặp khó khăn, nhưng người dân Sông Cầu vẫn lấy biển là nguồn sống, điểm tựa để vươn lên. Quyết tâm bám biển đã mở ra hướng đi mới cho huyện Sông Cầu trong nghề nuôi trồng thuỷ sản. Phát huy lợi thế tự nhiên của đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài và biển Sông Cầu, từ năm 1995, nhân dân Sông Cầu đã chuyển hướng sang nghề nuôi tôm hùm lồng. Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế cả nước và khu vực, tạo đầu ra ổn định cho con tôm hùm nên nghề này ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với nuôi tôm thịt, tôm hùm giống của Sông Cầu được các ngư dân Bình Định, Khánh Hòa ưa chuộng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngư dân. Với những kết quả đạt được, trong giai đoạn 2001 - 2005, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện xác định nghề đánh bắt tôm hùm giống và nuôi tôm hùm lồng là giải pháp thay thế con tôm sú. Qua đó, huyện đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ bà con ngư dân về nguồn vốn nuôi tôm hùm. Nhờ đó, số lượng lồng nuôi ngày càng tăng. Năm 2005, toàn huyện có 14.500 lồng, tăng 3,6% so với năm 2003, chiếm 90% tổng số lồng trong toàn tỉnh. Sản lượng năm 2005 đạt 725 tấn, tăng 565 tấn so với năm 2002, đưa Sông Cầu lên vị thế "Vương quốc tôm hùm".

Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu đang được khởi công xây dựng

Những thành công trong nuôi tôm sú (1993 - 1995) và tôm hùm (2001 - 2005) đã góp phần tăng nhanh giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Sông Cầu. Năm 2005, giá trị sản xuất thủy sản của huyện đạt 528 tỷ đồng (giá hiện hành), tăng 137 tỷ đồng so với năm 2002.

Hiện nay, nỗi lo lớn nhất của lãnh đạo huyện Sông Cầu là phát triển bền vững ngành trồng thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi tôm hùm. Để "Bài học tôm sú" không tái diễn, từ năm 2003 đến năm 2005, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện (nay là Phòng kinh tế) đã tổ chức 33 lớp tập huấn, thu hút 2.104 người tham gia học tập, tìm hiểu áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng và một số loài thủy sản khác vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa có khả năng cải tạo môi trường như: ốc hương, rong câu sụn, cá mú, cá rô phi đơn tính,... Đồng thời, huyện cũng triển khai chỉ đạo nhằm khống chế và loại nghề giã cào trong đánh bắt, khai thác hải sản (đánh bắt gần bờ, dùng lưới vét cào khiến nguồn lợi thủy sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng). Cùng với đó, từ năm 2001 đến năm 2005, huyện đã khuyến khích ngư dân phát triển nghề đánh bắt xa bờ, tổ chức tập huấn sử dụng tàu công suất lớn, hỗ trợ về tín dụng, xây dựng cảng cá Dân Phước, mở rộng bến cá Xuân Cảnh, vận động ngư dân đóng mới và nâng công suất tàu, thuyền. Tuy nhiên, do nuôi trồng thủy sản đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, nên khai thác đánh bắt xa bờ chưa được người dân Sông Cầu coi trọng. Vì thế, trong thời gian tới, huyện Sông Cầu cần tiếp tục khuyến khích ngư dân phát triển đánh bắt xa bờ.

Nông - lâm nghiệp là nền tảng

Là huyện thuần nông, ngoài thuỷ sản, huyện Sông Cầu xác định: sản xuất nông - lâm nghiệp là lĩnh vực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện chủ trương hướng sản xuất nông nghiệp phát triển theo chiều sâu, năm 2005, diện tích gieo trồng của huyện giảm còn 3.833 ha (giảm 466 ha so với năm 2002). Song nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, tập trung đầu tư thâm canh, đưa giống lúa có năng suất cao vào gieo trồng nên đã đưa năng suất lúa tăng từ 20,2 tạ/ha (năm 2001) lên 25,3 tạ/ha (năm 2005). Nhờ đó, năm 2005, sản lượng lương thực (có hạt) của huyện đạt 5.848 tấn, tăng 934 tấn so với năm 2001. Bình quân lương thực tăng từ 54 kg/người (năm 2000) lên 61 kg/người (năm 2005).

Đối với ngành chăn nuôi, năm 2005, giá trị sản xuất của ngành đạt 34,3 tỷ đồng (giá hiện hành), chiếm 45% GDP nông nghiệp. Phát huy thế mạnh trong chăn nuôi bò, huyện Sông Cầu đã tập trung phát triển theo hướng nâng cao chất lượng đàn bò thông qua chương trình sind hoá đàn bò. Đến tháng 10-2005, toàn huyện có 14.413 con bò, trong đó bò lai sind chiếm 9,5%.

Sau thời gian khai thác không khoa học, rừng của Sông Cầu đã cạn kiệt. Để khắc phục tình trạng này, chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc được triển khai khá hiệu quả. Trong 5 năm 2001 - 2005, toàn huyện đã trồng mới 4.405 ha rừng, đưa diện tích đất lâm nghiệp đạt 7.755 ha. Những bước tăng trưởng của ngành nông - lâm nghiệp sẽ mở ra cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp chế biến nông - lâm sản như: chế biến gỗ băm, dăm, chế biến giấy, bột giấy, chế biến hoa quả,...

Bước đột phá trong phát triển kinh tế

Kể từ khi quốc lộ 1D (đường Quy Nhơn - Sông Cầu), đoạn qua tỉnh Phú Yên có chiều dài 11 km kết nối khu đông bắc huyện với thành phố Quy Nhơn (Bình Định) đã tạo "Hành lang phát triển" cho ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp huyện Sông Cầu. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Phú Yên xác định: Sông Cầu là vùng trọng điểm công nghiệp của tỉnh, "đặc khu" kinh tế mới của Phú Yên gắn với Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu. Thêm nữa, việc nâng cấp cải tạo quốc lộ 1A, các tỉnh lộ 644, 642 và xây dựng các tuyến đường giao thông đến trung tâm các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã đáp ứng nhu cầu giao thương, phục vụ sản xuất.

Trong 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 17,1%/năm. Trong đó, xây dựng cơ bản tăng 15%/năm, tiểu thủ công nghiệp tăng 18,2%/năm. Năm 2005, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt 123,582 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), chiếm 10,4% GDP của huyện. Đến năm 2005, toàn huyện có 700 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thu hút 3.260 lao động.

Cùng với phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, phát triển du lịch cũng được các cấp lãnh đạo tỉnh và huyện hết sức quan tâm. Phát huy lợi thế của những bầu, đầm, vịnh, vũng với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, ngành thương mại - du lịch Phú Yên đã kết hợp với huyện Sông Cầu tiến hành quy hoạch các điểm du lịch. Trên cơ sở áp dụng các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh nhằm khuyến khích thu hút các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển du lịch, huyện còn thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, trình duyệt lập phương án đền bù, giải phóng, bàn giao mặt bằng, cải tạo và giữ nguyên trạng các khu du lịch đã được quy hoạch. Với những động thái tích cực đó, đến tháng 10-2005, toàn huyện có 12 dự án du lịch đăng ký đầu tư, trong đó nổi bật là dự án Khu du lịch sinh thái thôn Phú Dương - Đồng Bé (xã Xuân Thịnh), với chủ dự án là Công ty cổ phần T.ASIA - USA. Dự án Làng nghỉ mát Xuân Phương - Bãi Ôm - Thôn Dân Phú 2 (xã Xuân Phương), với chủ đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn Bão Hoàng (liên doanh với nước ngoài),... Cùng với đó, một số điểm du lịch như: Bãi Bàng, Bãi Rạng, Bãi Ôm, khu sân bay,... cũng đang được tiến hành đầu tư, khai thác. Đặc biệt, năm 2004, điểm du lịch sinh thái Bãi Bàu đã đi vào hoạt động. Với cảnh quan sạch đẹp, mặc dù đang trong giai đoạn hoàn thiện nhưng đã có hàng nghìn du khách đến vui chơi, nghỉ dưỡng. Đó là khởi đầu tốt đẹp cho ngành du lịch Sông Cầu, hứa hẹn hướng phát triển mới cho kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới.

Nỗ lực dựng xây một thị xã tương lai

Những kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh tế đã tạo động lực to lớn để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Sông Cầu quyết tâm xây dựng, nâng cấp thị trấn Sông Cầu thành thị xã vào năm 2010. Để hoàn thành thắng lợi mục tiêu này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Sông Cầu đang nỗ lực để đẩy mạnh phát triển kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, huyện Sông Cầu xác định: tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến tới hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phấn đấu nâng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, để đến năm 2010 công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 33 - 35% GDP của huyện.

Nhiệm vụ quan trọng trước mắt của huyện Sông Cầu là tiến hành triển khai quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch nâng cấp thị trấn Sông Cầu thành thị xã vào năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020; tiến hành quy hoạch bổ sung khu dân cư An Bình Thạnh theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, lập quy hoạch các khu dân cư dọc các tuyến giao thông liên thôn, liên xã, bao gồm: đường nội thị dọc bờ biển thị xã Sông Cầu (trong tương lai), tuyến tránh quốc lộ 1A, dọc tuyến quốc lộ 1D, đường Hoà Phú - Hoà An (xã Xuân Hoà) và các điểm dân cư của một số thôn; xúc tiến triển khai theo quy hoạch chuyển đổi một số diện tích đất sản xuất tại các khu trung tâm đô thị, các tuyến đường giao thông lớn sang đất xây dựng. Trên cơ sở huy động các nguồn vốn của Trung ương và tỉnh, Sông Cầu đang xúc tiến thủ tục đầu tư nâng cấp, mở rộng một số tuyến đường nội thị của thị trấn Sông Cầu, quy hoạch bãi đổ rác, khu sinh hoạt văn hoá - thể thao và đất dành cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo tại các xã, thị trấn và mở rộng mạng lưới điện nông thôn, chỉ đạo tiến hành công tác quản lý xây dựng nhà ở dọc các tuyến đường nội thị và một số tuyến đường chính của các khu dân cư mới quy hoạch theo hướng đô thị hoá.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư gắn với xây dựng đời sống nông thôn mới được đẩy mạnh. Đến cuối năm 2004, toàn huyện có 13.890 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, đạt 73,3%; 38/58 thôn văn hoá, đạt 65,5%. Phát thanh, truyền hình đã được phủ sóng đến 100% xã, thị trấn. Đến cuối năm 2005, toàn huyện có 4.635 máy điện thoại, mật độ sử dụng điện thoại đạt 4,9 máy/100 dân.

Tôm hùm giống

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được quan tâm đầu tư nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện, xây dựng trường chuẩn quốc gia, thực hiện hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Chương trình động viên toàn dân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, được nhân dân hưởng ứng thực hiện. Đến cuối năm 2005, toàn huyện có 10/11 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

Công tác dân số, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa, 01 phòng khám khu vực, 10 xã, thị trấn có trung tâm y tế. Đến năm 2005, 8/10 trạm y tế xã, thị trấn có bác sĩ. Năm 2005, bệnh viện huyện đã thực hiện 135 nghìn lượt khám bệnh, công suất sử dụng giường bệnh đạt 125%, tỷ lệ tử vong giảm còn 0,12%. Các chương trình y tế quốc gia được triển khai thực hiện đầy đủ và đạt kết quả tốt.

Công cuộc đổi mới đang mở ra cho Sông Cầu những cơ hội lớn để biến tiềm năng thành thế mạnh. Bằng ý chí quyết tâm, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Sông Cầu đang hiện thực hoá ước mơ đưa Sông Cầu trở thành trung tâm kinh tế của tỉnh và ngày càng văn minh, hiện đại.

Không có những ông chủ lớn về nuôi tôm hùm lồng, cũng không phải là địa phương đầu tiên của huyện Sông Cầu phát triển nghề nuôi tôm hùm lồng, nhưng những kết quả mà nhân dân thôn Dân Phú 1 (xã Xuân Phương) đạt được là minh chứng rõ nét về sự đổi thay về diện mạo kinh tế - xã hội nhờ khai thác thế mạnh của nghề nuôi tôm hùm. Ông Trần Thanh Long - Trưởng thôn Dân Phú 1 - nhớ lại: "Trước đây, người thôn Dân Phú 1 rất cơ cực, chỉ cây dừa mới sống được trên mảnh đất nắng gió và khô cằn này. Nhiều người đã bỏ làng vào Cam Ranh (Khánh Hoà) tìm kế sinh nhai, cả thôn chỉ lơ thơ vài nóc nhà cũ nát, len lỏi giữa những thân dừa. Sự đổi thay kỳ diệu đến với con người và mảnh đất nơi đây chỉ bắt đầu từ khi có con tôm hùm". Nhờ nuôi tôm hùm mà đời sống của 153 hộ dân trong thôn ngày càng được cải thiện. Toàn thôn có 57 tivi màu, 36 xe máy, 36 ghe thuyền dùng để đánh bắt tôm hùm. Các hộ gia đình trong thôn đều có nhà cửa kiên cố. Những chuyển biến của Dân Phú 1 chính là sự đổi thay của huyện Sông Cầu hôm nay.

Nhằm phát huy diện tích đồi núi hoang hóa ở các huyện ven biển của tỉnh Phú Yên. Dự án "Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ kinh tế - xã hội nông thôn" ở Xã Thọ Xuân 2 (huyện Sông Cầu) được triển khai thực hiện từ cuối năm 2001. Dự án đã đặt ra mục tiêu cho mô hình trang trại là xây dựng trên cơ sở lấy cây điều, xoài làm cây dài ngày xen canh cây lạc, dứa,... để tăng độ che phủ, độ phì của đất và cho thu hoạch ngay từ giai đoạn đầu. Cũng nằm trong khuôn khổ của dự án này, mô hình thâm canh cây mía cao sản trên đất đồi không chủ động nước tưới, sind hóa đàn bò và phát triển kinh tế trang trại trên đất gò đồi bằng cây trồng mang tính sản xuất hàng hóa, phù hợp với đất đai, khí hậu tại địa phương cũng được tích cực thực hiện. Sau 3 năm triển khai, dự án đã được nghiệm thu và đang có kế hoạch nhân rộng.

Sơ lược về mảnh đất, con người Sông Cầu

Huyện Sông Cầu nằm ở phía bắc tỉnh Phú Yên, phía tây giáp huyện Đồng Xuân, phía nam giáp huyện Tuy An, phía bắc giáp tỉnh Bình Định và phía đông giáp biển Đông.

Qua khai quật các di chỉ khảo cổ ở Gò ốc (xã Xuân Bình) cho thấy: cách đây 4.000 năm, mảnh đất Sông Cầu đã xuất hiện con người. Song, dấu ấn đậm nét về sự phát triển của mảnh đất và con người nơi đây chỉ thực sự bắt đầu từ thế kỷ XV khi các vương triều Đại Việt thực hiện công cuộc khẩn hoang "mở đất, lập làng". Năm 1611, Sông Cầu (phủ Phú Yên) thuộc dinh Quảng Nam. Đến năm 1629, phủ Phú Yên trở thành dinh Phú Yên (còn gọi là dinh Trấn Biên) gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà, khi ấy Sông Cầu thuộc huyện Đồng Xuân. Từ năm 1889 đến năm 1946, Sông Cầu là tỉnh lỵ của Phú Yên, đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế - văn hoá của tỉnh.

Là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, người dân cần cù và đầy nghĩa khí, Sông Cầu là vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Sông Cầu càng trở nên mạnh mẽ khi Chi bộ Đảng Cộng sản ra đời ngày 5-10-1930. Đến năm 1962, trước yêu cầu của tình hình cách mạng, Đảng bộ huyện Sông Cầu đã được thành lập. Kể từ đây, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sông Cầu không quản gian khổ, hy sinh cùng với nhân dân cả nước lập nên nhiều chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Ngày 1-4-1975, huyện Sông Cầu được giải phóng. Cùng với niềm hân hoan của cả dân tộc, nhân dân Sông Cầu hăng hái bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh và đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Ngày nay, dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng cán bộ, đảng viên và nhân dân Sông Cầu quyết tâm tạo những bước đột phá trong công cuộc phát triển kinh tế, phấn đấu đưa Sông Cầu trở thành thị xã vào năm 2010.

Với vị thế là tỉnh lỵ của tỉnh Phú Yên thời Pháp thuộc (1889 - 1946), Sông Cầu đã trở thành đô thị khá sầm uất. Đầu thế kỷ XX, trên địa bàn Sông Cầu, hàng loạt các chợ nổi tiếng như: chợ Sông Cầu, chợ Gò Duối, chợ Vũng Lắm đã xuất hiện. Đến trước năm 1945, một số ngành nghề của huyện tương đối phát triển như: đan lưới, kéo sợi, làm gạch ngói, nước mắm, đồ gỗ, đồ gốm và làm muối. Vì thế, người dân Sông Cầu có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ.

Định hướng phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp huyện Sông Cầu đến năm 2010

Ngày 29-4-2004, Uỷ ban nhân dân huyện Sông Cầu đã ra Quyết định số 111/2004/QĐ-UB về việc ban hành đề án phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp huyện Sông Cầu đến năm 2005 và định hướng phát triển đến năm 2010. Đề án đã phân tích những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến những yếu kém, tồn tại và đề ra giải pháp khắc phục nhằm thực hiện thắng lợi chương trình phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2005 - 2010.

1. Định hướng phát triển

Đề án đã đưa ra những định hướng phát triển và quy hoạch cụ thể đối với ngành công nghiệp Sông Cầu. Trong đó, trọng tâm là các chương trình xây dựng, phát triển các điểm sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và chương trình phát triển mở rộng ngành nghề, làng nghề. Mục tiêu đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 33 - 35%/năm.

Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 5 - 6 nghìn lao động, hỗ trợ Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu về nhu cầu lao động, đất xây dựng nhà ở cho công nhân, các điểm sản xuất, gia công vệ tinh, tạo điều kiện thuận lợi để khu công nghiệp này phát triển theo đúng quy hoạch.

2. Các điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Long Bình (thị trấn Sông Cầu) có diện tích 2 - 3 ha, (giai đoạn II, từ năm 2006, sẽ mở rộng quy mô lên 5 ha). Các ngành nghề sản xuất chủ yếu gồm: nghề gia công cơ khí, sản xuất cửa kéo, cửa sắt hoa; sản xuất các sản phẩm từ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, mây tre lá, sản xuất bánh mỳ, bánh kẹo, nước giải khát; sản xuất nước đá, đường kết tinh, hải sản xuất khẩu, thức ăn công nghiệp cho nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Diêm Trường - Xuân Lộc có diện tích 8 ha, đang tiến hành đo đạc, cắm mốc mặt bằng. Dự kiến đến năm 2007, dự án này sẽ hoàn thành công tác xây dựng kết cấu hạ tầng, tập trung các hạng mục điện, nước, đường giao thông và các hạng mục khác. Các ngành nghề sản xuất chủ yếu gồm: gia công cơ khí, sản xuất cửa sắt kéo, cửa sắt hoa, sản xuất các sản phẩm từ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, mây tre lá, sản xuất nước đá, các cơ sở gia công vệ tinh cho Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu (các nghề gò, hàn, phay, tiện, sửa chữa các linh kiện, sơ chế nguyên liệu,...).

Điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Xuân Phương sẽ lựa chọn điểm xây dựng trong năm 2008 và triển khai thực hiện đầu tư năm 2010.

Cơ cấu kinh tế năm 2005
Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Sông Cầu
 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau