frameleft href
frameright
 

Phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên

đưa kinh tế - xã hội phát triển theo hướng toàn diện

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nguồn nhân lực,... là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Khảo sát, phân tích và sử dụng hiệu quả những nhân tố đó là tiền đề hết sức quan trọng cho công tác hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Biển Xuân Hải (huyện Sông Cầu)

1. Vị trí địa lý, khí hậu

1.1. Vị trí địa lý:

Phú Yên có diện tích tự nhiên 5.045 km2, nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Việt Nam), có toạ độ địa lý từ 12o39'10" đến 13o45'20" vĩ độ bắc và 108o39'45" đến 109o29'20" kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía tây giáp hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, phía đông giáp biển Đông.

1.2. Khí hậu:

Phú Yên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng của hoàn lưu khí quyển nói chung, vừa chịu sự chi phối hoàn lưu khí quyển gió mùa khu vực. Phú Yên chịu ảnh hưởng của nhiều luồng không khí đối lưu, nhiệt độ trung bình cao, nắng nhiều, mưa ít và lượng mưa phân bố không đều: tập trung nhiều nhất ở vùng núi Chư Mu, Đèo Cả (trung bình trên 2.000 mm/năm); ít nhất là thung lũng sông Ba, sông Kỳ Lộ, sông Krông Pa (trung bình 1.200 mm/năm). Tỉnh Phú Yên không có mùa đông lạnh, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa lũ.

Sự luân chuyển các hướng gió ảnh hưởng trực tiếp đến khí hậu, thời tiết của Phú Yên. Các hướng gió chính trong năm theo hai mùa:

Mùa đông: chịu ảnh hưởng của tín phong đông bắc với khí hậu nhiệt đới Thái Bình Dương. Gió mùa đông bắc mạnh có thể đến Phú Yên theo hai hướng: hướng bắc dọc theo sườn đông dãy Trường Sơn và hướng lệch đông qua đường biển. Vùng đồng bằng ven biển gió bắc có tần suất 50 - 60%, gió đông bắc có tần suất dưới 30%, gió đông nam thỉnh thoảng xuất hiện vào các tháng mùa đông, tần suất dưới 20%.

Mùa hạ: không khí xích đạo bắt nguồn từ vùng biển Bắc ấn Độ Dương kết hợp với một phần tín phong Nam bán cầu vận chuyển lên phía bắc được gió mùa hạ đem đến Phú Yên theo hai luồng:

1) Luồng không khí từ phía tây và tây nam thổi qua các dãy núi ở Hạ Lào và Campuchia. Sau khi để lại mưa ở sườn tây dãy núi Trường Sơn, luồng không khí này mang đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ (Việt Nam) cái nóng gay gắt và thời tiết khô do độ ẩm thấp.

2) Luồng không khí xích đạo, bắt đầu từ Nam Thái Bình Dương và một phần tín phong Nam bán cầu thổi tới theo hướng nam hoặc đông nam, luồng không khí này đi qua quãng đường dài trên biển nên độ ẩm cao, đem lại thời tiết mát mẻ hơn vào cuối mùa hạ.

Cũng như đặc điểm chung của miền duyên hải Nam Trung Bộ, Phú Yên có gió đất, gió biển tuần hoàn quanh năm.

2. Địa hình, tài nguyên

2.1. Địa hình, sông, suối:

Miền đất Phú Yên là một phần của vỏ lục địa rộng lớn Đông Dương. Những hoạt động địa chất của trái đất trong nhiều thời kỳ đã kiến tạo cho Phú Yên đầy đủ các dạng địa hình: núi, đồi, cao nguyên, đồng bằng và biển khơi.

Địa hình Phú Yên thấp từ tây sang đông. Phía tây là sườn đông của dãy Trường Sơn Nam. ở khu vực này, địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn. Phía đông là đồi núi xen kẽ đồng bằng, thỉnh thoảng là các dãy núi đá chạy sát ra biển, chia cắt đồng bằng ven biển thành những đồng bằng nhỏ.

Mạng lưới sông, suối khá dày đặc, được tạo nên bởi các con sông phát nguồn từ tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum, các dãy núi từ phía nam Bình Định và phía bắc Khánh Hoà. Phú Yên có khoảng 50 con sông, suối chính. Lớn nhất là sông Ba (còn có tên gọi sông Đà Rằng), chiều dài 360 km, phần chảy qua tỉnh dài 90 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô thuộc địa phận Kon Tum; tiếp theo là sông Kỳ Lộ, chiều dài 120 km, đoạn chảy qua tỉnh dài 76 km; ngoài ra còn có sông Hinh, sông Cà Lúi, sông Bàn Thạch, sông Cầu, sông Krông Năng, sông Con, sông Đồng Bò, sông Thá, sông Trà Bương, sông Cô,...

Mạng lưới các sông được phân bố khá đều trên phạm vi toàn tỉnh. Tuy nhiên, dòng chảy các sông phân bố không đều trong năm, hình thành hai mùa rõ rệt: mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8, lưu lượng dòng chảy nhỏ chiếm 20 - 30% lưu lượng nước trong năm; mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12, lưu lượng dòng chảy lớn, chiếm 70 - 80% lưu lượng nước trong năm. Hệ thống sông, suối của Phú Yên có lượng phù sa dồi dào, bồi đắp cho đồng bằng Tuy Hoà và Tuy An có diện tích lớn nhất các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Ga hàng không Tuy Hoà

2.2. Tài nguyên:

Tài nguyên rừng: rừng Phú Yên đa dạng, phân loại như sau:

1) Rừng nhiệt đới núi thấp: phân bố ở khu bảo tồn thiên nhiên Krôngtrai (xã Sơn Hội, huyện Sơn Hoà).

2) Rừng thưa nửa rụng lá nhiệt đới núi thấp: phân bố chủ yếu ở huyện Sơn Hoà, khu bảo tồn thiên nhiên Krôngtrai (xã Sơn Phước, Sơn Nguyên).

3) Rừng rậm nhiệt đới núi thấp: phân bố rộng, chiếm khoảng 70% diện tích rừng tự nhiên của tỉnh, tập trung tại Hòn Chông, huyện Đồng Xuân, huyện Tuy Hoà (cũ), huyện Sông Hinh và một số vùng khác.

4) Rừng cây bụi gai nhiệt đới núi thấp: phân bố ở độ cao 50 - 100 m so với mặt biển, tập trung ở một số vùng của huyện Tuy An, huyện Sông Cầu, huyện Đồng Xuân.

Tài nguyên biển, nước lợ: Phú Yên có 189 km bờ biển, phía bắc bờ biển địa hình khúc khuỷu tạo nên nhiều hang, động, hốc, đầm, vũng nước mặn; phía nam chủ yếu là bãi ngang với các cồn cát chạy dọc ven biển. Diện tích vùng biển khai thác có hiệu quả là 6.900 km2. Biển Phú Yên có nguồn tài nguyên hải sản rất phong phú với 500 loài cá, 30 loài tôm và nhiều loài hải sản quý có giá trị kinh tế cao,... Các đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, cửa sông Tiên Châu, sông Ba, Đà Nông có các loài thuỷ sản đặc trưng nước lợ: cua huỳnh đế, rong câu, hải sâm, sò huyết,...

Tài nguyên khoáng sản: Phú Yên có nhiều loại khoáng sản cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng, than nâu, nước khoáng, sắt, nguyên liệu sứ, nguyên liệu chịu lửa, phụ gia xi măng, nguyên liệu mài, titan,... Các nhà địa chất Phú Yên đã phát hiện, đăng ký 147 mỏ và điểm quặng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, một số điểm quặng trữ lượng nhỏ, một số điểm chưa được thăm dò, khảo sát quy mô để xác định trữ lượng. Trữ lượng dự báo những khoáng sản đã được khảo sát, bao gồm:

1) Vàng, bạc: trường quặng sông Hinh, trường quặng Sơn Phước có trữ lượng dự báo lớn. Các trường quặng có trữ lượng dự báo thấp là Trảng Sim, Sơn Nguyên. Tuy nhiên, những khu vực có trữ lượng dự báo lớn lại phân bố trong phạm vi rộng, do đó hiệu quả khai thác thấp.

2) Nhôm: trữ lượng dự báo 8,958 triệu tấn.

3) Sét diatomit: tổng trữ lượng khai thác của các mỏ trên địa bàn khoảng 90 triệu m3, phân bố tập trung với trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất Việt Nam. Riêng mỏ Hoà Lộc đạt trữ lượng khoảng 61 triệu m3, đây là địa điểm mỏ đang được tập trung khai thác. Chế phẩm của diatomit được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: chế phẩm dung dịch cho giàn khoan, lọc nước giải khát, lọc nước cho nuôi trồng thuỷ hải sản,...

4) Đá granít: các mỏ đá granít của Phú Yên có trữ luợng lớn, chất lượng cao rất được ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế.

Cảnh quan Vũng Rô

3. Thổ nhưỡng

Thổ nhưỡng của Phú Yên được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại của sinh quyển nhiệt đới và sự phong phú, phức tạp của cấu trúc địa chất. Qua kết quả điều tra nghiên cứu và dựa vào hệ thống sinh học, các nhà khoa học đã tổng hợp và chia thổ nhưỡng của Phú Yên làm 4 tổ hợp:

- Tổ hợp I: đất có độ phì nhiêu cao, tiềm năng phát triển nông nghiệp lớn. Các loại đất này tập trung ở vùng đồng bằng thấp, gồm có: đất phù sa, đất đen trên sản phẩm bồi tụ bazan.

- Tổ hợp II: loại đất có độ phì nhiêu trung bình, khả năng phát triển nông nghiệp ở mọi địa hình. Loại đất này bao gồm: đất dốc tụ, đất nâu vàng, đất nâu đỏ trên đá, đất nâu thấm trên bọt đá và đá bazan, đất mặn phèn ít và trung bình.

- Tổ hợp III: đất có độ phì nhiêu thấp và trung bình, khả năng phát triển nông nghiệp hạn chế, gồm: đất cát và cồn cát ven biển, đất mặn nhiều, phèn nhiều, đất xám, đất vàng đỏ trên đá mácma axít.

- Tổ hợp IV: đất có độ phì nhiêu thấp, tầng mỏng, độ dốc lớn, chủ yếu dùng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, gồm: đất mùn vàng đỏ, đất phát triển trên đá mácma axít tầng mỏng.

4. Kết cấu hạ tầng

4.1. Hệ thống điện: thuỷ điện sông Hinh và hệ thống điện lưới quốc gia có khả năng đảm bảo cung cấp điện cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn toàn tỉnh. Đến tháng 6-2004, 100% xã được sử dụng điện lưới quốc gia. Quý I năm 2004, thủy điện sông Ba Hạ có công suất 220 MW đã khởi công xây dựng tại huyện Sơn Hòa, dự kiến sẽ hoàn thành năm 2008.

4.2. Hệ thống cấp nước: với công suất 25 nghìn m3/ngày đêm, hệ thống cấp nước đảm bảo cung cấp nước sạch cho khu vực thành phố Tuy Hoà, các vùng lân cận và Khu công nghiệp Hoà Hiệp. Các thị trấn trung tâm huyện đều được sử dụng nước máy với tổng công suất khoảng 13 nghìn m3/ngày đêm.

4.3. Giao thông: Phú Yên có đủ các loại hình giao thông: đường biển có cảng thương mại nước sâu Vũng Rô; đường không có sân bay Tuy Hoà (từ ngày 1-4-2003 đã nối lại đường bay thành phố Hồ Chí Minh - Tuy Hòa); đường sắt Bắc - Nam; đường bộ có quốc lộ 1A qua tỉnh dài 118 km, quốc lộ 25 lên Gia Lai và tỉnh lộ 645 qua huyện Sông Hinh lên Tây Nguyên. Hệ thống giao thông địa phương đến các huyện lỵ đều được trải nhựa,100% xã có ôtô đến trung tâm xã và đang được tiến hành kiên cố hoá.

4.4. Thông tin liên lạc: mạng lưới điện thoại, viễn thông của tỉnh đã hoà mạng viễn thông toàn quốc, dễ dàng liên lạc với các địa phương trong cả nước và các nước trên thế giới. Đến năm 2005, mật độ sử dụng điện thoại đạt 10,4 máy/100 dân, 100% thị trấn huyện lỵ trong toàn tỉnh được phủ sóng Vinaphone và Mobiphone.

5. Thuận lợi và hạn chế

Tỉnh Phú Yên đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá các tiềm năng của tỉnh trên mọi lĩnh vực, trên cơ sở đó hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể và từng vùng.

5.1. Thuận lợi:

Về công nghiệp: Phú Yên có hệ thống sông, suối đa dạng, có địa hình thuận lợi cho xây dựng các công trình thuỷ điện. Cùng với thuỷ điện sông Hinh đã được đưa vào sử dụng, thuỷ điện sông Ba Hạ đã được khởi công xây dựng vào tháng 4-2004. Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều điểm có thể xây dựng thuỷ điện nhỏ, phong điện. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, ngành khoa học - công nghệ và ngành công nghiệp Phú Yên phải tiến hành khảo sát kỹ lưỡng về địa chất, khí tượng thuỷ văn, từ đó lập dự án gọi vốn đầu tư xây dựng các công trình, chủ động đáp ứng nhu cầu sử dụng điện năng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.

Về nông - lâm - thủy sản: căn cứ vào địa chất, thổ nhưỡng và phân bố của các loại đất, Phú Yên đã từng bước quy hoạch phát triển nông nghiệp nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất: trồng lúa ở vùng đồng bằng Tuy Hòa, Tuy An và các đồng bằng xen kẽ đồi núi, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh; tập trung trồng các loại cây công nghiệp có thế mạnh như mía, bông, mè (vừng), điều,... ở diện tích đất đồi gò. Khai thác thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc, trong những năm qua, trên cơ sở giống bò vàng địa phương, Phú Yên đã tập trung sind hóa đàn bò để nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, với 189 km bờ biển khúc khuỷu tạo nên nhiều vũng, vịnh, đầm, bầu, Phú Yên có nhiều lợi thế để phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản.

Về thương mại - dịch vụ - du lịch: với những bước tiến trong lĩnh vực nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp, đặc biệt là sự đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông và hệ thống chợ trên địa bàn của chính quyền địa phương, hoạt động thương mại - dịch vụ đã có những chuyển biến tích cực. Tỉnh đã tập trung đẩy mạnh công tác xuất khẩu, nâng cao tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến, tạo thêm mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu có khối lượng và giá trị lớn với chất lượng và giá cả cạnh tranh.

Với địa hình đa dạng, có rừng núi, cao nguyên, đồng bằng, biển, đảo, sông, hồ,... tạo nên phong cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình; nhiều di tích văn hóa - lịch sử, Phú Yên có điều kiện để phát triển đa dạng các loại hình du lịch, kết hợp với làm tốt công tác quy hoạch để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

5.2. Hạn chế:

Bên cạnh những thuận lợi, Phú Yên còn có những hạn chế nhất định. Trong đó:

Nhân lực: Phú Yên còn thiếu nhiều cán bộ có trình độ cao, tỷ lệ cán bộ, viên chức lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học của Phú Yên còn thấp. Đến năm 2003, trong khu vực kinh tế nhà nước, 47% cán bộ, công nhân, viên chức - lao động có trình độ trung cấp; 24,4% có trình độ đại học; 0,26% có trình độ sau đại học; 10,4% có trình độ tin học; 15,67% có trình độ ngoại ngữ. Trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, số cán bộ, công nhân viên chức -lao động có trình độ trung học cơ sở chiếm khoảng 40 - 50%, lao động chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo tay nghề khoảng 30 - 40%.

Vật lực: do xuất phát điểm thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém nên từ khi tái lập tỉnh, kinh phí của Trung ương và địa phương chủ yếu dành để đầu tư xây dựng, củng cố kết cấu hạ tầng. Vì thế, trong những năm qua, Phú Yên chưa thực hiện đầu tư được nhiều công trình trọng điểm và các dự án lớn mang tính đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Với những tiềm năng và lợi thế trên, có thể khẳng định, Phú Yên hội tụ đủ những yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế theo hướng toàn diện. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, Phú Yên cần hoạch định chiến lược phát triển đúng đắn trên cơ sở khai thác, phát huy hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh, kết hợp cân đối, hài hoà giữa huy động nội lực và thu hút ngoại lực, tạo thành sức mạnh tổng lực để tự tin vững bước cùng cả nước trên chặng đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên xác định: "Tiếp tục khai thác hợp lý những tiềm năng, thế mạnh, phát huy nguồn nội lực, xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư, tuyên truyền, nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong công cuộc xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp". Theo đó, tỉnh Phú Yên tập trung phát triển kinh tế theo hướng:

1) Nông nghiệp: chú trọng chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với vùng miền, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá hiệu quả, bền vững.

2) Công nghiệp: đầu tư và khai thác hiệu quả các khu công nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp khai khoáng, chú trọng phát triển các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu.

3) Thương mại - dịch vụ - du lịch: tích cực xúc tiến công tác đầu tư thương mại, tìm kiếm đối tác; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ ngành du lịch, tiến hành quy hoạch các khu du lịch một cách hợp lý; ban hành các chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho các dự án; quảng bá hình ảnh Phú Yên đến với bạn bè trong nước và quốc tế.

Nắng

(bình quân)

Nhiệt độ

(bình quân )

Mưa

(bình quân)

Lượng mưa

(bình quân )

Mùa khô

Mùa mưa, lũ

2.300 - 2.600 giờ/năm

25oC

110 ngày mưa

1.700 mm

Từ tháng 1 đến tháng 9

Từ tháng 10 đến tháng 12

 
     
Trang trước | Lên đầu trang | Trang sau